Tượng Ông Hoàng gồm những ai ? - Đồ thờ Sơn Đồng Hà Nội

Tượng Ông Hoàng gồm những ai ?

Tìm Hiểu Tượng Ông Hoàng , Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bẩy, và Ông Hoàng Muời Là Ai ?

Tương truyền, cũng như các Quan, các ông hoàng đều có gốc tích là con trai Long Thần Bát Hải Đại Vuơng ở hồ Động Đình, tuy nhiên, theo địa phương hoá thì các ông Hoàng đều gắn với một nhân vật nào đó ở cõi nhân gian là những danh tướng có công dẹp giặc cứu nuớc, những người khai sáng, mở mang đất nước. Trong số mười ông Hoàng thì thuờng có sáu ông giáng đồng, có ba ông giáng rất thuờng xuyên, đó là Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bẩy, và Ông Hoàng Muời. Khi các ông giáng đồng, các Ông Hoàng có phong cách gần giống các Quan lớn, tuy nhiên có phần phong nhã, vui tươi hơn

Tượng hoàng
Tượng Quan hoàng

Đi tìm sự tích Thánh ông Hoàng Mười

 Trong số Thập vị quan Hoàng, Thánh ông Hoàng Mười là một trong những vị tồn tại nhiều dị bản về thân thế.
Trong số Thập vị quan Hoàng, Thánh ông Hoàng Mười là một trong những vị tồn tại nhiều dị bản về thân thế. Nhưng khác với truyền thuyết về ông Hoàng Bảy, Thánh ông Hoàng Mười được gắn với các nhân vật có thật trong sử sách. Tuy nhiên, đáng tiếc là đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa thể bóc tách từng giả thuyết để trả lời cho câu hỏi. Ông Hoàng Mười là ai?
Truyền thuyết ông Hoàng Mười
Một số câu chuyện ghi lại rằng: Thánh ông Hoàng Mười là con của Đức vua cha Bát Hải Động Đình đầu thai thành vị tướng tên Lê Khôi dưới triều Lê, giúp Lê Lợi đánh tan giặc Minh. Khi đất nước thái bình, theo lệnh vua cha, ông hóa thân về trời. Từ đó, người dân vùng Nghệ An gọi ông là “Đức thánh minh”, lập nên đền thờ để hậu thế đời đời tưởng nhớ.
Trong sách “Đạo mẫu Việt Nam”, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nhà nghiên cứu Phạm Văn Khiêm cũng đã liệt kê được trên 80 câu thơ về nhân vật lịch sử này. Đây cũng đồng thời là bài hát khi hầu giá ông Hoàng Mười. Điểm đặc biệt trong nội dung lời hầu giá, đó chính lai lịch, sở thích của vị tướng quân có công giết giặc giữ nước trùng với giả thuyết cho rằng, ông Hoàng Mười thực ra là vị tướng Lê Khôi.
Lời hầu giá rằng: “Cánh hồng thấp thoáng trăng thanh/ Nghệ An có đức thánh minh ra đời (Hoàng Mười)/ Gươm thiêng chống đất chỉ trời/ Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung/ Thanh xuân một đấng anh hùng/ Tài danh nổi tiếng khắp vùng trời Nam”… Nội dung bài hầu giá ngoài việc ca ngợi vị tướng Lê Khôi, tức đức thánh minh không chỉ có tài kiếm cung, thao lược mà ông cũng rất phong lưu, đào hoa. Khi rảnh rỗi, ông thường cưỡi ngựa đi ngắm cảnh, làm thơ, bên cạnh lúc nào cũng năm, ba thiếu nữ theo hầu…
Lời hát khi hầu giá ông Hoàng Mười mà Nhà nghiên cứu Phạm Văn Khiêm đưa vào sách “Đạo Mẫu Việt Nam” chỉ là một trong số nhiều bài hát hầu giá khác cùng tồn tại. Điều đó nói lên sự phức tạp và có nhiều dị bản khác nhau về ông Hoàng Mười.
Giả thuyết thứ hai cho rằng rằng: Ông Hoàng Mười chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai của Lý Công Uẩn, cai quản châu Nghệ An. Tuy nhiên, cho đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa tìm ra tư liệu hay bằng chứng nào để chứng minh cho giả thuyết này. Nhưng dẫu sao thì truyền thuyết vẫn tồn tại trong một bộ phận dân chúng, người ta vẫn coi ông Hoàng Mười là con trai đức vua cha Bát Hải Động Đình và dĩ nhiên, trong bài hầu giá của mình, người ta vẫn coi ông là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.

Sự Tích Đền Ông Hoàng Bảy

Đền ông Hoàng Bảy – hay còn gọi là đền Bảo Hà – di tích nằm trên ngọn núi Cấm thuộc xã Bảo Hà (Bảo Yên; Lào Cai) là một điểm đến hấp dẫn du khách vì nhiều lý do; trong đó có những câu chuyện truyền kỳ khó tin.

Ông Hoàng Bảy thực sự là ai cho đến nay vẫn là một bí ẩn; dù trong dân gian có nhiều câu chuyện truyền kỳ khác nhau giải đáp điều này.

Ông “thần vệ quốc”

Người Bảo Hà chỉ biết ông Hoàng Bảy là “thần vệ quốc” – một vị anh hùng của miền sơn cước từng đánh giặc phương Bắc bảo vệ nhân dân. Khi ông mất; đền thờ ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm; quay mặt ra phía sông Hồng; đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng đất biên giới được bình yên; thịnh vượng.

Truyền thuyết kể rằng; Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua; ông giáng phàm trần; trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn; cuối thời Lê. Vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Qui Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc phương Bắc tràn sang cướp phá; khắp vùng loạn lạc; cư dân điêu tàn. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy; tướng Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc; giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn.

Trong một trận chiến đấu không cân sức Ông Bảy bị giặc bắt; chúng tra khảo hành hạ dã man; nhưng ông vẫn một lòng kiên trung; quyết không đầu hàng; cuối cùng; không làm gì được; chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay; di quan của ông dọc theo sông Hồng; trôi đến phà Trái Hút; Bảo Hà; Lào Cai thì dừng lại. Nhân dân trong vùng đã vớt; an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.

Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại; thì trời bỗng chuyển gió; mây vần vũ; kết lại thành hình thần mã; từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang; phi lên thân ngựa; đến Bảo Hà thì dừng lại; trời bỗng quang đãng; mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội.

Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai; ngự trong dinh Bảo Hà; đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi; phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn; uống trà mạn Long Tỉnh; ngồi chơi tổ tôm; tam cúc; xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận; ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức; tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng; Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc – Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.

Đền Bảo Hà lưng tựa vào núi; mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy. Đến thờ thần vệ quốc” Hoàng Bẩy; vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ dân làng. Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà.

Hội đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17/7 âm lịch hàng năm. Vào ngày này có đông đảo du khách thập phương đến dự. Người ta thường dâng ngựa xám; bàn đèn; thuốc cống; kẹo xìu (kẹo lạc)…. Ngoài những ngày lễ hội; vào những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân) khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp về đây để thắp hương tưởng niệm; cầu an; cầu lộc.

Sự Tích Ông Hoàng Bơ

Hoàng Bơ là con trai vua Long Vương Bát Hải Động Đình nên còn được gọi là ông Bơ Thoải. Ông thường ngự dưới Thoải Cung, trông coi Đền Vàng Thủy Phủ. Lưu truyền rằng, ông thường hiện lên thành vị Hoàng Tử dung mạo hơn người, cưỡi cá chép vàng biến trên mặt nước. Đôi khi, ông cũng biến hiện để ngao du thiên hạ, cùng các bạn tiên uống rượu, đánh cờ,… hưởng thử các thú vui của bậc cao nhân.

Theo những điển tích truyền miệng, ông là người em thân cận của Quan Lớn Đệ Tam. Khi rảnh rỗi, ông thường rong chơi khắp chốn trên thuyền rồng. Nhưng thấy cảnh dân chúng còn nghèo khổ lầm than, ông đã nhận lệnh Vua Cha lên làm khâm sai cõi phàm trần, mở hội Phúc Duyên, giáng phúc cho dân buôn bán làm ăn thuận buồm xuôi gió, người có học đỗ đạt thành tài, xã hội bình an yên ấm.

Có nhiều dị bản liên quan tới sự tích ông Hoàng Bơ. Một trong số đó kể rằng, ông là thái tử con vua Nam Tống, mang tên húy là Tống Khắc Bính. Sau khi bị nhà Bắc Tống đánh bại, Ngài đã dong thuyền ra biển Đông sau đó thác hóa tại đây. Di quan Ngài trôi đến cửa Cờn tại Quỳnh Lưu, Nghệ An và được ông Hoàng Chín lúc bấy giờ đang tu ở đó vớt lên chôn cất. Sau khi ông Hoàng Chín quy hóa, nhân dân đã phối hương linh vị ông Hoàng Bơ, ông Hoàng Chín và Tứ Vị Vua Bà thờ tại đền. Tuy nhiên, điển tích này cần được xem xét do ngày nay, Trung tâm Nghiên cứu Tiềm Năng Con người xác định đền Cờn là nơi thờ ông Hoàng Chín chứ không phải là thờ ông Hoàng Bơ.

Một dị bản khác ghi chép rằng, Thài Bà nằm mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng, tay ôm một đứa bé trai tuấn tú, kháu khỉnh. Nàng nói vì cảm tạ tấm lòng từ bi công đức của Bà, sẽ cho Hoàng tử Long cung sẽ đầu thai làm con để báo hiếu và lập công cho đất nước. Quả đúng như vậy, sau đó Thái Bà sinh hạ một bé trai khôi ngô nhanh nhẹn, mặt sáng tinh anh, bèn đặt tên là Trần Minh Đức. Giống như lời chiêm bao khi xưa, cậu bé tám tháng đã biết nói, chín tháng biết đi, năm tuổi đã đọc thông sách vở.

Năm hăm hai tuổi, Minh Đức Đã ngày đêm nghiên cứu Phật Pháp tại thảo am, không màng hôn nhân phu phụ. Sau khi cha mẹ về tiên, thì ông cũng đi đâu không ai hay biết. Ngôi đền và thảo am cũng dần nhang lạnh khói tàn. Rồi một đêm, dân làng ai ai cũng đều mơ thấy có một vị hoàng tử khôi ngô tuấn tú, đầu đội kim khôi, mình mặc áo trắng lưng giắt kiếm bạc, cưỡi trên đôi bạch xà. Người báo mộng rằng mình là Hoàng Tử Long Cung, giáng sinh xuống trần làm con Thái Ông Thái Bà nay đã hết hạn phải về Thủy Cung. Hoàng Tử nói khi dân gặp nạn ắt sẽ đến cứu, về sau cũng sẽ âm phù cho dân sống ấm no, không quên dạy dân thờ phụng Thánh Mẫu Thủy Tinh cho nghiêm cẩn. Sáng dậy, ai cũng thuật lại cho nhau giấc mơ y hệt, bèn cung kính lập thêm long ngai bài vị Minh Đức Hoàng Bơ Thoải tại đền Thánh Mẫu. Sau này, khi đê Ngự Hàm vị bỡ, dân chúng trở tay không kịp bèn lập đàn cầu đảo. Hoàng Tử Long Cung đã hóa thành ông Bạch mãng xà xuất hiện hàn long. Sau khi đê được hàn xong thì Bạch xà cũng biến mất lúc nào không hay. Dân làng đều biết là Minh Đức hoàng tử cứu giúp bèn về đền lễ tạ, sau xây một ngôi đền ngay chỗ vỡ đê để thờ Thánh Hoàng Ba Thoải, nay thuộc huyện Đông Long, tỉnh Thái Bình.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

098.994.6644